Showing posts with label TÙY BÚT. Show all posts
Showing posts with label TÙY BÚT. Show all posts

Thursday, October 17, 2013

GỬI CHA YÊU - Tùy bút Nguyễn Thị Chi


Nguyễn Thị Chi
Sinh năm 1991
Quê quán: Phú Yên
Năm lớp 9 và năm lớp 12, em đã đạt được giải nhì "Học sinh giỏi văn cấp tỉnh"
Hiện đang làm việc tại Bình Dương

Lời giới thiệu của Đào Văn Đạt: Vô tình tôi gặp được Nguyễn Thị Chi trong bộn bề công việc. Chi đang làm thư ký tại một trung tâm Hoa Ngữ. Chi yêu văn chương như yêu cuộc sống của chính mình. Em rất thích viết nhưng có lẽ vì chưa tiếp cận được nhiều nên còn hơi rụt rè. Thế nhưng em vẫn âm thầm viết để trải lòng mình những cảm xúc rất thật. Đọc những bài tùy bút của Chi tôi nhận ra nơi cô bé nhỏ nhắn này có cả một tâm hồn lãng mạn và đầy nghị lực. (ĐVĐ)





Cha ơi,
          Có lẽ nào con có còn là con gái của cha nữa không, có lẽ nào mọi người cha cao thượng và giàu đức hi sinh lại có một người con ngang ngạnh, ương bướng như con? Năm nay con mười tám tuổi, nghĩa là mười tám năm trước con sống đều nhờ vào sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ. Mười tám năm rồi thời gian cứ lặng lẽ trôi đi, lớp bụi gió sương đã làm cho mái tóc cha thêm bạc mà con nào có biết? Cuộc sống mưu sinh đã ngăn hai cha con mình thành hai thế giới khác nhau. Ở đó, con chỉ biết học và gọi thầm "cha" trong những giấc ngủ. Con chẳng hề nghĩ gì tới nỗi lo toan, vất vả đằng sau những đồng tiền mà cha kiếm được từ chính mồ hôi, nước mắt của cha để nuôi con ăn học.
          Chỉ vì con, hằng ngày cha phải lặn lội dưới bùn để mày mò từ con ốc, con cua. Ngày nắng cũng như ngày mưa cha đều xách trên tay cái giỏ với đôi chân đen sạm vì nắng, vì gió. Đôi lúc con đâm ra chán ghét cái nghèo vì nó làm cha khổ mà con cũng khổ theo. Con biết lúc đó nhà ta còn khó khăn nhiếu lắm.
          Có những lúc con quá vô tư mà không nhận ra nỗi vất vả sớm hôm của cha. Và những lúc con trót vô lễ với cha. Cha giận con nhiều lắm. Bênh vực cho con, thế là cha mẹ cãi vã nhau. Rồi tình cảm cha mẹ bị tổn thương. Đã có lúc con nghĩ giá như cha mẹ đừng sinh con ra trên cõi đời này thì mọi chuyện đã không như thế! Nhưng con đã sai và sai rất nhiều.Với cha, con là niềm hạnh phúc vô bờ. Vậy mà hạnh phúc đó lại được đáp đền bằng sự bất hiều và vô lễ của con.
          Từ trước tới giờ con chưa từng ngồi tâm sự với cha. Tình cảm cha con cũng vì thế mà ngày càng xa cách. Mười tám năm trôi qua, sương gió càng làm gầy đi thân xác gầy guộc của cha vậy mà con chưa một lần nhổ cho cha một sợi tóc sâu nào cả.
Con thật đáng trách phải không cha?
          Hôm trước vì giận con mà cha đã đập vỡ cái bình, kỉ vật quý nhất mà ông nội đã để lại cho cha. Cha đập nó vì không nỡ đánh con, cha đành trút giận lên nó. Cái bình mà cha vẫn luôn yêu quí và dùng nó để uống trà mỗi ngày. Nhìn những mảnh vỡ tung tóe khắp nơi, dòng nước mắt của con đã rưng rưng chảy. Nó chảy vì lần đầu tiên con cảm nhận được sự yêu thương của cha và lỗi lầm của mình. Con khóc vì lần đầu tiên con nhận ra con cũng biết xúc động chứ không phải là một đứa con gái ngang ngạnh, ương bướng như trước kia.
          Cha ơi!
          Con rất mong nhận được sự tha thứ nhưng con không đủ can đảm để thốt ra những lời xin lỗi. Bởi lẽ đứng trước cha, con thấy mình thật nhỏ bé và ích kỉ. Giờ đây con mới hiểu được rằng cái nghề nông quí giá đến chừng nào! Khi chính cha đã làm nên hạt gạo nuôi con khôn lớn. Mỗi hạt giống cha gieo là một niềm hi vọng về tương lai tươi sáng của con mình. Cha ơi, con yêu cha nhiều lắm!

Nguyễn Thị Chi (Bình Dương)



Tuesday, October 15, 2013

NGƯỜI NÔNG DÂN CHO CON – Tuỳ bút Phạm Tử Văn


Bố mẹ chỉ là nông dân. Bố chưa một lần khoác lên mình tấm áo màu xanh, đội chiếc mũ bảo hộ màu vàng làm việc trong nhà máy điện. Mẹ con cũng chỉ có làn da nâu sậm, không tóc dài, da trắng, tay cầm phấn dạy  i, t trên lớp. Suốt bao năm, bố mẹ chỉ có ruộng đồng, bùn đất làm bạn. Nhưng trong bài văn con viết về bố mẹ năm con học lớp ba, con đã cho bố mẹ được “đổi đời”. Đến hôm nay, sau mười bốn năm, bố mẹ vẫn giữ hai bài văn ấy như một kỉ niệm ngây ngô đầu đời của con. Ba chị em con khôn lớn, mỗi đứa đi một nơi. Ba gian nhà trở nên thênh thang và trống trải. Buồn, bố lại lấy hai bài văn đọc cho mẹ con nghe. Hai bóng già lại khúc khắc cười. Không gian như đâu đó còn bóng con thơ dại.
Bố mẹ chỉ là nông dân. Lúa, ngô, rơm, rạ suốt đời gắn bó. Cuộc sống bộn bề những lo toan nên học hết a, b, c lại lam lũ với cấy cày. Bố mẹ đâu một ngày được học “ây – bi - xi” như con. Con được học lên cao, biết thêm một ngoại ngữ. Về nhà, bố hỏi con có ăn cá không, bố xuống ao bắt? Con nhanh nhảu trả lời: “No”. Bố bảo: “Ao nhà mình nhỏ, bố xuống bắt ù cái là được, không lâu đâu”. Con cười ha ha. Bố ngơ ngác nhìn con không hiểu. Sự ngơ ngác của đứa trẻ lên ba. Đến tối ngồi ăn cơm, mẹ con hỏi: “Sáng mai, con có đi học thêm không?”. Con lại nhanh nhảu đáp: “Yes”. Mẹ con thắc mắc: “Đi học hay không cũng biết với không biết là sao?”. Con lại phì cười làm cơm trong miệng tung tóe bắn ra xung quanh. Mẹ con ngơ ngác nhìn mọi người. Con giải thích “yes” là “có”, còn “no” là “không”. Bố mẹ “à” một tiếng rồi nhìn con. Bố mẹ hạnh phúc vì gia đình có những giây phút hạnh phúc như thế. Bình dị mà yên vui. Bây giờ các con đi xa, đôi lúc mẹ con hỏi, bố trả lời “yes”; khi bố nói, mẹ con trả lời “no”. Lòng thấy ấm áp khi nhớ ngày đầu con nói được “no” và “yes”.
Bố mẹ chỉ là nông dân. Nên lòng luôn mong muốn các con sau này không phải chịu cảnh nông dân như bố mẹ. Cơ cực và long đong. Nhưng bố cũng không muốn sau này con theo nghiệp văn chương. Sẽ gian truân và lận đận. Đó là lí do, bố không muốn cho con trai bố đi học đội tuyển văn. Nhưng rồi bố vẫn miễn cưỡng cho con theo học. Tương lai là của con, bố mẹ chỉ có thể định hướng, đâu có quyền quyết định. Ngày cầm tấm giấy khen con đạt giải ba văn của tỉnh, bố hãnh diện nhưng lòng vẫn trăn trở. Bố chậc lưỡi: “Thôi kệ, biết đâu sau này con thay đổi”. Và rồi bố đã thức trắng hai đêm khi biết con đã chọn trường kinh tế để thi. Bố thắc mắc: “Con thi kĩ thuật là vì muốn bố vui hay đó thực sự là mục đích con muốn hướng đến”. Bố chỉ còn biết cầu chúc cho con mắn. Con người nông dân đâu cho bố nói nhiều…
Bố mẹ chỉ là nông dân. Bố mẹ dầu dãi quanh năm mà gia đình vẫn chông chênh trong nghèo đói. Đã có lúc người làng nhìn gia đình mình bằng một phần hai con mắt: “Đã nghèo còn đòi cho con học cao”. Lòng thấy le lói đau, nhưng bố mẹ càng quyết tâm cho con học cao hơn nữa.
Bố mẹ quen với mùi bùn sình tanh hôi, nên khi ngửi mùi thơm của giấy vở, bố thấy ngai ngái khó chịu. Nhưng lòng lại thênh thang háo hức khi đọc những trang thành tích rực đỏ của các con. Bố và mẹ con hiểu, các con đang thực sự muốn cuộc sống của bố mẹ sau này được thay đổi. Và hai thân dã tràng lại tiếp tục se cát xây non rồi háo hức hi vọng.
Bố mẹ chỉ là nông dân. Nên ngày con chuẩn bị hành lí để bắt đầu sống những ngày tháng sinh viên xa nhà, bố mẹ đã không có đủ tiền lo một mâm cơm tươm tất cho con chung vui với hàng xóm, bạn bè. Nhà hàng xóm ăn mừng con thi đỗ, tiếng hò dô, chúc tụng hớn hở vọng sang. Lòng bố mẹ buôn buốt. Nhưng lo tiền nhập học cho con đã là quá sức. Vậy nên sáng hôm sau, trước khi đi, bố chỉ lặng lẽ rút ba cây nhang, châm lửa đốt rồi bảo con thắp lên bàn thờ gia tiên cầu khấn các cụ phù hộ bình an. Nhìn khói hương nghi ngút bay lên, bố thấy tủi hơn là vui. Còn mẹ con nén lệ vào lòng để động viên con cố gắng. Thiếu thốn hôm nay nhưng sau này sẽ đủ đầy và sung túc.
Suốt một đời khắc khoải, đợi chờ và cố gắng, nhìn các con hôm nay phương trưởng ở những phương trời khác nhau, lòng bố mẹ ngập tràn hạnh phúc. Bố mẹ quanh năm chỉ biết có bốn bờ ruộng mấp mô, biết nắng hanh và gió rát nhưng bố mẹ đã cho con biết đâu là Sa Pa thơ mộng, đâu là Hà Nội phồn hoa, đâu là Hạ Long huyền bí, đâu là Đà Lạt mộng mơ, đâu là Sài Gòn nhộn nhịp, đâu là Côn Đảo linh thiêng và đâu là Thụy Điển sầm uất... Người nông dân đã cho con có tất cả.
  Và bố mẹ luôn tự hào với bản chất người nông dân đã gắn bó với bố mẹ gần sáu mươi năm. Cho dù, những năm tháng sau này, bố mẹ cũng vẫn chỉ là nông dân…


Phạm Tử Văn (TP. HCM)

Monday, October 7, 2013

AI ĂN BÁNH LỌT HÔN…! – Tuỳ bút Vĩnh Sơn

                                              Vĩnh Sơn
Tên thật Võ Văn Sơn
Sinh năm 1987
Quê quán: Ấp Bắc, Mỹ Tho, Tiền Giang
Hiện đang công tác tại Văn phòng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh  trường Đại học Tiền Giang


Đó là tiếng rao bán hàng của mẹ tôi. Trong cái nắng hừng hực của những ngày hè. Đôi gánh trên vai kẽo kẹt, mẹ khom người bước đi từng bước nặng trịch. Tiếng rao ấy của mẹ lúc cao, lúc thấp… đã theo tôi suốt những năm tháng tuổi thơ.
Nhà có bảy miệng ăn đều trông chờ vào nồi bánh lọt ấy. Khi chúng tôi còn say giấc nồng thì mẹ đã dậy từ rất sớm. Mẹ say bột, nhào bột, nặn bánh nấu bột và nấu nước đường. Kể thì vắn tắt vậy, chứ bắt tay vào công việc thì vất vả vô vàn. Bàn tay mẹ thoăn thoắt cho từng vốc gạo vào chiếc cối đá rồi xoay xoay vùn vụt. Từng dòng bột chảy ra trắng xóa. Mẹ cho nước bột vào một chiếc bồng nhỏ vắt cho bớt nước, rồi cho tiếp vào chiếc nồi to nấu chín với nước lá dứa. Tiếp tục, mẹ đổ bột chính lên một chiếc rổ tre rồi nhào qua, nhào lại cho chúng tạo thành con bột xanh xanh. Gần sáng, anh chị em tôi dậy, phụ mẹ nạo dừa để làm nước cốt. Mẹ bắt nồi nước đường lên bếp và cho thêm vào vài cộng lá dừa cho thơm. Công việc xong xuôi, mẹ cho nồi nước đường và bánh vào chiếc thúng tre. Nhìn nồi nước đường vàng vàng, hũ nước cốt dừa trắng trắng và con bột xanh xanh, chúng tôi thèm lắm. Mẹ múc cho thằng Út một chén nhỏ và nói “Mẹ cho thằng Út một chén. Còn các con cố nhịn, để mẹ bán lấy tiền mua gạo. Mai mốt khá hơn, mẹ cho tụi bây ăn đã luôn”. Mẹ quảy gánh lên vai và bước ra đường khi trời vẫn còn lờ mờ. Bán hết bánh, mẹ mua gạo, đường và dừa khô để làm nồi bánh tiếp theo. Ngày nắng là thế. Còn những ngày mưa, mẹ phải đội bánh đến từng ngõ xóm, ra chợ Vĩnh Kim cách nhà hàng chục cây số. Chiều. Mẹ trở về, ướt sũng nước mưa. Chúng tôi ra đỡ quang gánh cho mẹ. Giọng khản đặc, mẹ bảo: “Thằng Hai ngâm gạo giúp mẹ, con Tư lấy gạo nấu cơm, thằng Ba gọt dừa phụ mẹ…”. Duy nhất, thằng Út được ưu tiên bóp chân cho mẹ. Nó hỏi ngây ngô: “Mẹ đi xa có mệt lắm không?”. Mẹ cười, xoa đầu nó: “Mệt thì có mệt nhưng thấy con ngoan và có hiếu mẹ hết mệt rồi!”
Anh chị em tôi lớn lên nhờ nồi bánh ấy của mẹ. Mùi nước bột, mùi lá dứa, mùi nước cốt dừa và nước đường đã quen thuộc đối với chúng tôi. Những lần thấy mẹ một mình làm bánh lúc nửa đêm, tôi thấy bóng mẹ cao lớn, lồng lộng bên bếp lửa đỏ rực. Tôi tự nhủ với lòng mình: Mình phải ráng học thật tốt, để đi làm có tiền phụ mẹ.
Ngày tôi đỗ đại học, mẹ vui lắm. Mẹ nấu một nồi bánh thật to đãi mấy đứa bạn thân tôi. Đứa nào ăn cũng hít hà tấm tắc khen bánh ngon, có đứa ăn hết 5 chén mà vẫn bảo chưa no. Chúng nó bảo: “Nghỉ hè, tụi tao về nhà mày ăn bánh nữa nha”. Cầm chén bánh trên tay tôi thấy lòng mình nặng trĩu. Rồi đây, mẹ tôi sẽ thức dậy sớm hơn, quẩy gánh đi xa hơn để cho tôi đi tìm “tương lai”.
Vào những buổi trưa nắng như đổ lửa, hình như tôi lắng nghe tiếng rao: “Ai ăn bánh lọt..t.t không?…” đến nao lòng. Tôi thấy nhớ thương mẹ đến vô vàn, mẹ ơi!


Vĩnh Sơn (Tiền Giang)

Sunday, September 29, 2013

GIÓ BẤC VỀ LẠI NHỚ QUÊ – Tuỳ bút Trần Duy Đức


“Gió bấc mang về nỗi nhớ nhung/ Bờ lau xơ xác dưới mưa phùn...”, tôi không nhớ là hai câu thơ của ai, nhưng cứ đến đông về thì càng nhớ quê, nhớ gió mùa đông- bắc mang hơi lạnh từ phương Bắc tràn vào phương Nam, đặc biệt là miền Trung. Cái lạnh như cắt da cắt thịt, ảnh hưởng đến đời sống và sức khỏe, nhất là đối với trẻ con và người già là đối tượng có sức đề kháng yếu. Mùa đông mưa phùn gió bấc, có năm lạnh đến cóng người, súc vật cũng không chịu nổi, vì thế mà cứ mùa này thì người già chết nhiều, nên cuối năm có nhiều ngày giỗ.

Tôi chưa có dịp sống ở miền Bắc vào mùa đông rét, nên chưa hình dung được cái rét đến cá dưới nước cũng phải nhảy lên bờ, trâu bò cũng ngã lăn ra chết. Người miền Bắc gọi mùa gió tràn về từ phương Bắc khoảng độ tháng chín, tháng mười âm lịch năm trước đến tháng giêng, hai năm sau là gió mùa đông- bắc. Người miền Trung lại gọi là gió bấc, có lẽ do từ gió bắc mà trại thành gió bấc chăng! Ở Nam bộ, nhất là miền Tây còn gọi là gió chướng.

Đã gần bốn chục năm rồi, tôi cư trú ở cái phố huyện, nay đã là trung tâm thị xã, dưới triều Nguyễn là tỉnh thành Bình Định. So với những người đồng hương tha phương ngoài tỉnh, ngoài nước thì nơi tôi ở gần quê nhà hơn, vậy mà cứ mỗi mùa đông đến kèm theo gió bấc, mưa phùn rét mướt tôi lại nhớ quê. Nhớ cái rét ngọt giữa mùa làm ruộng cấy, quê tôi là nơi bắt đầu sông Côn rẽ nhánh, nằm lọt thõm giữa hai dòng sông, ba bề là sông nước ôm gọn xóm làng, đồng ruộng, đến mùa đông thì gió từ hai nhánh sông càng thổi mạnh vào làng. Những dáng nông dân đi làm đồng, người cày thì con trâu đi trước, cái cày cái bừa theo sau, kẻ gánh mạ non, phân chuồng ra ruộng, đàn bà khom lưng đi chà lui dưới mặt ruộng theo luống mạ cấy, trẻ con theo những đàn bừa để bắt cá, bắt cua.v.v...Ai nấy cũng mặt mày lấm lem bùn đất, chân cẳng mốc thếch, đầu đội nón cời, mang tấm ni lông mỏng, một ít người lớn tuổi choàng cái áo tời chằm bằng lá cứ run bần bật, trống trước hụt sau. Quần xắn quá gối, dáng người cứ như nhỏ bé trên cánh đồng mênh mông mưa dầm, gió dãi, thân hình nghiêng nghiêng trên cái bừa có hàng răng sắt vài chục chiếc nhọn hoắt, những người gánh gồng kẽo kẹt đi trên bờ ruộng càng mong manh, không ít người bị gió hất tung xuống mương, xuống ruộng. Những con người lam lũ bán mặt bán cho đất, bán lưng cho trời, đầu đội nón cời cứ chúi về phía trước, từng đợt gió rét cứ đẩy tấm lưng còm ướt đẫm về phía sau như một dấu chấm hỏi đặt ngược, mà đã bao nhiêu năm rồi tôi không dễ gì quên hình ảnh người nông dân trên đồng ruộng quê mình vào mùa gió bấc, cùng với bao day dứt.

Hình ảnh những người phụ nữ kẽo kẹt gánh rau cải, bầu bí dưa củ, gạo, bắp... qua sông đi chợ lúc gà còn gáy. Những cô cậu học học trò, ngày hai buổi qua lại trên con đò nang giữa dòng nước bồng bềnh, gió bấc thổi ào ào làm cho đò cứ chao nghiêng, chòng chành, nước mấp mé mạng xuồng, bao phen mất hồn, hú vía. Những ngư dân ngồi trên chiếc sõng câu nhỏ trông như chiếc lá nổi trên mặt nước cứ nghiêng nghiêng trước gió. Ngày chủ nhật tôi cùng lũ bạn trong xóm thả bò ra gò, đứa nào cũng co ro trong chiếc quần cộc cuộn lên sát háng và áo mỏng phong phanh, chân mốc meo, cùng nhau tìm nhặt phân bò khô nhúm lửa rồi xúm tụm lại cho ấm, khi về nhà quần áo, tóc tai đứa nào cũng bay mùi khói phân bò ngai ngái.

Làm sao quên được những mái nhà tranh vách đất, vào mùa đông gió giật cuốn ngược đuôi tranh, có lúc tốc mái, nước thấm vách sạt lở. Đến hoàng hôn về, từng cơn gió lùa mang cái rét vào tận ngôi chùa đầu làng, nghe tiếng chuông ngân vang như cứ rưng rưng. Cái lạnh ùa vào nhà, vào bếp, vào những bữa cơm chiều của bà con ở quê, đang lúc cả nhà quây quần mâm cơm bên bếp lửa với nồi cơm thơm lựng mùi gạo giã lúa “Trì trì, Ba trăn, Ba triên...” với trách cá mòi hay cá trích kho muối tiêu, đĩa rau lang luộc chấm mắm cua đồng, đôi lúc có vài con cá rô nướng dằm nước mắm. Tối lại, bà nội bảo mẹ rang bắp nổ lúp búp rồi rưới nước mắm ớt có pha tý đường cho lũ trẻ tôi vừa ăn bắp vừa học bài đỡ buồn ngủ. Bắp rang vừa dòn dòn, vừa có vị mặn và ngọt, ngoài trời mưa bay gió dãi, tối đen như mực. Có hôm, ban ngày mẹ bưng gạo sang xay nhờ cối nhà bên đem bột về đúc bánh xèo, ngoài trời mưa tí tách cùng với những cơn gió lùa, trong nhà nghe tiếng xèo xèo của bánh vừa đổ bột lên khuôn trên cái lò đỏ lửa. Rau thơm, rau húng, khế chua chua ngọt ngọt có sẵn trong vườn, cả nhà quây quần ăn bánh xèo nóng hổi.

Dẫu ngày nay đời sống ngươi dân từ miền quê đến phố thị đã khấm khá. Nhưng ở nước ta, nhất là miền Trung, thì vẫn theo chu kỳ mưa- nắng- bão- giông- nóng- lạnh. Khác với gió nồm ngọt lịm của mùa xuân; gió tây nam nóng rát, khô hanh của mùa hạ; gió heo may- gió mà như không gió giữa thu; thì mùa đông tuy mỗi năm mức độ có khác nhau, nhưng vẫn gió bấc mưa dầm, vẫn rét mướt, vẫn là khoảng thời gian dành cho ta bao trăn trở, lo toan về những tháng ngày cuối năm khắc nghiệt, để rồi có được một mùa xuân ấm áp, đất trời quang đãng.

Dù sống ở phố thị, nhiều người có đời sống khá hơn, nhà cao cửa kín, nệm ấm chăn êm... nhưng sao khỏi chạnh lòng khi những cơn gió bấc mùa đông buốt giá làm lạnh run một tiếng rao khuya hàng rong, tiếng trở mình của kẻ không nhà trú tạm đâu đó dưới mái hiên, vỉa hè, lều chợ, sân ga... càng liên tưởng đến mùa đông gió giật, lũ dồi ở vùng sông nước làng quê. Bởi, dù ngày nay là người sống ở thị thành thì phần lớn cũng xuất xứ từ nông dân, từ đồng quê gốc rạ, nên càng có cuộc sống đủ đầy càng không thể quên ký ức một thời ở làng quê khi đông về, bấc đến.

Đã đi qua bao mùa mưa dầm gió giật, lạnh cắt da cắt thịt, tôi nhận ra dòng sông quê đã biến đổi cạn dần, bên lở bên bồi. Dù có giấu diếm những bất trắc tai ương thì mùa mưa lũ, gió bấc tràn về dòng sông cũng quặn thắt, cùng với quặn thắt lòng người dân lam lũ quê tôi để rồi sẽ có một sớm chớm xuân, những tia nắng vàng ấm áp nhảy nhót trải dài hai bờ sông, ùa vào từng ngõ ngách xóm làng, cùng với màu xanh của lúa non đang dậy thì, màu vàng của hoa cúc, hoa mai... và cả hoa cải đón xuân.

Tháng 10. 2012
Trần Duy Đức (Bình Định)



Saturday, September 28, 2013

BÌNH DƯƠNG TRONG TÔI – Tuỳ bút Trịnh Huy

          Tôi không phải nhà văn, một tác gia hay một cây bút lớn. Tôi chì là đứa học trò. Tôi không có cái vinh hạnh sinh ra trên mảnh đất này, mà đơn thuần chỉ được lớn lên ở đây, trong vòng tay của mẹ.
          Bình Dương ư?
          Đơn giản thôi!
          Trong tôi, Bình Dương là ngày đầu tiên mẹ con tôi dắt díu nhau về đây thăm ngoại, quãng đường 25 cây số đã mòn bánh xe suốt 16 năm qua mà tôi chẳng thể nào nhớ nổi. Tôi vậy đấy, chẳng hiểu thế nào mà tôi có thể thuộc làu lịch sử của các quốc gia xa lạ, nhưng chẳng thể nào nhớ được ngày sinh nhật của mẹ mình. Vì với tôi, có lẽ… những thứ đó không quan trọng chăng???
          Trong tôi, Bình Dương là khu vườn nhà ngoại! Khu vườn nhỏ với cái hồ be bé nằm cạnh lối đi, mà có lần tôi tôi suýt ngã xuống đó. Khu vườn nhỏ của bà tôi có đầy cây cỏ, nào mít Tố nữ thơm lừng, nào sầu riêng béo ngậy, lại có chôm chôm, nhãn, xoài, mận, bưởi và cả măng cụt nữa. Khu vườn nhỏ xinh của ngoại nằm lọt thỏm trong tổng thể khu miệt vườn lớn Lái Thiêu nổi tiếng cả nước trong nhiều thập kỷ qua, với diện tích hàng ngàn héc ta. Từ lâu đã được coi như là lá phổi xanh của hàng chục triệu người dân sống ở khắp các tỉnh, thành miền Đông Nam bộ. Nhưng lạ, giống như trong chuyện cổ tích mà bà hay kể tôi nghe, khi mụ phù thủy ác độc phù phép vào nước suối, khiến cây cối trong vườn cứ lụi dần. Tôi còn nhớ có lần cầm dao chặt phăng nhánh mít cản lối đi, mà bà đã rầu cả ngày, nay lại bị mụ phù thủy ác độc làm hại tới cỏ cây cả khu vườn, ắt là bà buồn lắm .
          Bình Dương trong tôi là chút nắng nhẹ và lá rơi giữa mùa ổi chín, khi mà tôi bắt đầu đi học. Biết bao nhiêu trò quậy phá thầy cô, biết bao lần bị phạt đứng. Ít ra trong mấy năm liền, tôi cũng có được vài đứa bạn thân cùng sẻ chia hoạn nạn, những đứa đó tôi vẫn chơi chung tới bây giờ… tuy là… có vài thứ không còn như trước.
          Bình Dương có tiếng với lễ hội Chùa Bà và món bánh bèo bì Mỹ Liên, khi mà khách thập phương đổ về dự hội, kể cả những ngày nghỉ khác hằng năm. Khỏi phải nói, lũ chúng tôi vui nhất, mừng nhất rồi, không phải vì hội hè gì, chỉ là vì giao thông hôm đó thường tắc nghẽn nên chúng tôi được nghỉ học một ngày.
          Bình Dương ư? là bà cụ cứ tầm 9 giờ sáng lại gánh thúng trái cây ra ngồi gốc cây sát tường trường Trần Quốc Toản ở Lái Thiêu. Thú thật, nhìn bà cụ, tôi chẳng rõ tóc bà bạc hay không, vì bà đội nón lá và cúi lưng quá thấp, tôi  lại nghĩ tới cảnh bà tôi, mẹ tôi… vào độ tuổi đó thì sẽ thế nào!!! Mỗi sáng đi học, tôi đều thấy có một cụ ông và một cụ bà, ông ngồi xe lăn còn bà đẩy phía sau, họ cầm trên tay tập vé số và mặt họ ánh lên nụ cười, luôn luôn là như vậy …
          Bình Dương là những ngày mùa mưa lạnh tôi ngồi co mình trên hiên nhà, dù có thể vào trong được, nhưng tôi vẫn thích ngồi ngoài hiên, cốt chỉ để đợi chị bán bắp xào đi ngang qua… Cảm giác chút chút gì nóng len lỏi vào trong cơ thể sau cơn lạnh, khiến cho tôi cảm thấy có phần khoan khoái hơn thì phải… Đó cũng là lí do tôi thích uống sữa nóng hay trà nóng sau khi cố tình dầm mưa …
          Bình Dương lại là những hôm bão, mưa lớn. Quanh năm suốt tháng không rời miền Nam ấm áp, thật tình đây là lần đầu tiên tôi biết bão là thế nào. Gắng gượng lắm tôi mới ra khỏi quãng hương lộ vừa mới xây, trong khi gió và mưa cứ liên tục quất vào mặt và cản chiếc xe của tôi lại. Khu tôi ở cúp điện, cả ba mẹ con thu mình bên ngọn đèn cầy le lói gió… thu mình… thu mình …
          Bình Dương là những tòa nhà chọc trời mới xây ở Thành phố mới, kéo theo bao khát vọng của người dân nơi đây, cũng như người dân xứ lạ. Càng lúc càng dày các khu công nghiệp, hy vọng kinh tế – xã hội Bình Dương sẽ không ngừng phát triển, nếu chúng ta biết xây dưng và bảo vệ. Ngược lại thì hàng ngàn héc ta miệt vườn cây trái Lái Thiêu, trong đó có khu vườn nhỏ xinh của bà tôi sẽ dần tàn lụi, bởi lẽ tôi biết: Mụ phù thủy ác độc lẩn trốn trong ống khói, ống xả của những nhà máy kia! Thế mà tôi nghĩ lâu đài hắc ám của mụ phải to hơn, lớn hơn và không luồn cúi như thế!
          Bình Dương là ngày 8-3 vừa rồi, tôi vịn tay mẹ lại… nhưng không thể thốt thành lời: Con yêu Mẹ… và để câu nói ấy lịm dần… rồi tan vào quên lãng…
          Bình Dương là nắng ấm tình người…
          Bình Dương là mưa chan hạnh phúc…
          Bình Dương là ngọn lửa yêu thương…
          Bình Dương là màu xanh hoa trái…
          Bình Dương là hoa văn gốm sứ…
          Bình Dương là cá hóa thành rồng…

          Nhưng trong tôi, Bình Dương là Mẹ!

 Trịnh Huy
( Lớp 10D, trường PTTH Trịnh Hoài Đức, Bình Dương)

          

Thursday, September 26, 2013

NGÔI CHÙA LÀNG TÔI – Tuỳ bút Hoàng Thị Nhã

      
Hoàng Thị Nhã

Nắng dịu nhẹ vương trên mái ngói đỏ của ngôi chùa làng, mặt nước lăn tăn đưa những chiếc lá bàng đỏ ối rụng xuống theo con nước. Trên bầu trời xanh màu óng ả của làn mây cùng tiếng sáo vi vu của tụi trẻ làng tôi chiều nào cũng thả. Tôi ngồi lặng nhìn mẹ đang làm bên sông, tẹo nữa nắng tắt tôi sẽ đẩy thuyền sang bên đón mẹ.
Ngôi chùa cổ kính làng tôi cũng gần nhà, những trưa hè oi ả tiết kiệm nguồn điện ở cái quạt là tôi lại lang thang ra gốc cây si già ngồi tựa lưng vào thân mình cái cây ấy, cảm nhận cơn gió mát qua rồi những chú chim từ đâu bay về vườn cây trong chùa rất nhiều, chúng ríu rít truyền từ cành nọ sang cành kia, có con chim cu gáy gù gù đứng lặng yên, hai mắt khẽ nhắm hờ làm như canh chừng việc tôi học bài. Mọi thứ thanh tịnh yên ắng như cái thuở ban đầu của ngôi chùa mặc cho ngoài kia là con đường quốc lộ đông người và tiếng xe ồn ã qua lại. Với ai đó đi chùa là những dịp theo các bà, các mẹ đi lễ thắp hương khấn trời đất cầu cho mạnh khỏe đỗ đạt. Còn với riêng tôi, hầu như suốt tuổi thơ ngày nào cũng đi qua chùa ít nhất một lần, đi theo mẹ sang sông nhà tôi có ruộng bên ấy. Có những khi ôn thi thì ngồi học bài miết ở chùa có khi trưa nắng leo quá đỉnh đầu mẹ gọi thì tôi mới lóc cóc theo về ăn cơm. Ngày lễ hay ngày hội của chùa tôi cũng theo bà đi lên chùa thắp hương, bà chít khăn mỏ quạ vấn tóc giống hệt những người xưa tôi nhìn thấy trên phim về lịch sử và từ đó tôi tin lịch sử ta chiếu lại mọi thứ đều có thật. Khác hẳn ngày thường, các bà các cụ đến chùa thắp hương rất đông thường trừ dịp lễ ra ngày dằm và mùng một cũng như vậy.

Tôi còn nhớ những ngày be bé ấy, chùa làng tôi chỉ có một thầy duy nhất ở. Thầy râu tóc bạc phơ, khuôn mặt phúc hậu, đặc biệt rất quí lũ trẻ con trong làng chúng tôi. Xuống chơi thầy dặn chúng tôi:
- Các con chơi trong khu vườn không được lội xuống sông nghịch nước kẻo đuối nước! - chúng tôi đồng thanh vâng lời thầy!
Lũ chúng tôi nghe lời bố mẹ dặn xuống chùa không được nói năng ồn ào lỗ mãng, rồi không được chạy nhảy lung tung nghịch phá cây cối trong vườn chùa. Tôi nhớ bữa ấy cu Hân tìm thấy một tổ chim cu gáy trong vườn chùa, cu Hân leo tót lên xem có mấy trứng nhưng chúng tôi kêu lên đừng động vào trứng, về bảo thầy hẵn xem thế nào.
Thầy nghe chúng tôi kể thì khuyên chúng tôi không nên động vô tổ của những chú chim non ấy, để nó tự nở ra và có cơ hội cất tiếng hót làm đẹp cho đời. Rằng thầy bảo chúng tôi cũng như những chú chim non kia cần có sự bao bọc của bố mẹ và những người xung quanh thì mới lớn lên và trưởng thành được. Cái quan trọng cho tương lai sau này là phải có tình yêu thương những con vật, vì chúng cũng có tình cảm như chúng ta. Quay trở lại vào trong, thầy cầm ra một cuốn sách bìa xanh xanh đã phai màu đi theo màu của năm tháng, thầy bắt đâu kể cho chúng tôi nghe cuộc sống phiêu bạt của một cậu bé nào đó mà sau này lớn lên tôi nhớ tên cậu bé An trong cuốn truyện “Đất rừng phương Nam” của nhà văn Đoàn Giỏi, qua những câu chuyện thầy kể chúng tôi cuốn vào thế giới của những sân chim bạt ngàn, những chú chim nhiều màu sắc mà ở ngoài Bắc tôi từ bé tới thời ấy chưa được nhìn thấy một lần nào. Tôi nhớ thầy nói:
- Những chú chim non sắp ra ràng ấy cũng như chúng ta cũng như cậu bé An trong chuyện thầy kể, rằng trôi vào hoàn cảnh loạn lạc mất cha mẹ thì cuộc sống sẽ trở nên rất khó khăn. Nhưng qua đây các con cũng học được nghị lực vươn lên của cậu bé. Đặc biệt những chú chim kia nó cũng có tình cảm nên đừng tách đàn hại con của nó. Không chừng ngày nào đó nó sẽ xa lánh con người chúng ta mất các con ạ!
Thầy nói chậm rãi, tiếng thầy vẫn sang sảng như tiếng đọc kinh mỗi sáng khi đi học qua chùa. Chúng tôi ghi nhớ những điều thầy dặn nên không chọc phá tổ chim bao giờ nữa.
Cả tụi thi nhau quét sân nhặt cỏ trong vườn chùa, tỉa những cọng lá khô trên cây chuối già, hay đi hái những bông hoa đại về cho thầy dùng vào việc tắm cho tượng Phật. Mùi nước hoa đại đun cùng với những nhành quế thơm tỏa ra làm tâm can mỗi người ắt hẳn trở nên thanh hơn. Chưa kể việc thầy lên chuông:
- Boong… boong…” mỗi sáng vọng lại từng ngôi nhà nhỏ đánh thức một ngày mới. Hay tiếng chuông chùa ấy lên lúc chiều tắt nắng báo hiệu đến lúc nghỉ tay trở về nhà sau ngày đi làm đồng. Nhờ nó mà tôi xác định được mẹ tôi sẽ về tới nhà lúc mấy giờ để chuẩn bị bữa cơm chiều.
Một buổi chiều vắng lặng, nắng như buồn hơn, bốn giờ rưỡi như mọi ngày mà sao không một tiếng chuông, một con sếu bay trước lạc đàn đang bay vòng chậm trên cao. Cánh diều hôm nay bỗng nhiên buông mình xuống bãi cỏ mà mọi khi lũ trẻ ngâm tôm thả cả đêm cơ mà. Bỗng tiếng chuông rung đột ngột liên hồi. Mẹ tôi đi làm về nhanh tay ra giếng rửa tay chân rồi vào nhà thay quần áo. Mẹ bảo:
- Nhanh! Thay quần áo rồi theo mẹ xuống chùa đi con! - tôi ngờ ngợ làm theo. Lần đầu tiên trong đời, tôi theo mẹ rồi khóc trên lưng mẹ khi phải đội tang thầy đã qua đời. Hôm ấy, các bà các mẹ đầu đội tang trắng, chúng tôi đeo tang vàng.
Một ngày, tôi rẽ qua chùa ngồi dưới gốc cây si già ngắm dòng nước lững lờ trôi. Tôi biết đâu đó thiếu một thứ gì đã quá thân quen. Rằng hôm nay đã chẳng còn tiếng thầy đọc kinh trong thoảng gió. Nghe đâu đó tiếng chim gụ trên mái chùa…
Hoàng Thị Nhã (Hải Dương)

               

Thursday, September 5, 2013

THÁNG 6 MƯA NGÂU – Tuỳ bút Võ Thuỵ Như Phương

                                                   Võ Thuỵ Như Phương

Tháng Sáu chưa gì mưa đã mưa như thể Ngâu.
Mà cũng lạ, đối với mình Ngâu không có nghĩa riêng cho Ngưu - Chức. Ngâu trong ký ức mình là những chiều quê mưa dầm, nặng hạt. Là những buổi cơm giữa buổi với ơ cá kho khô cùng với những lát cơm dừa béo ngậy. Khi ấy nội mình ngồi dưới ghế đẩu còn chị em mình xếp bằng ngay ngắn trên vạt. Cái lạnh của mưa dễ khiến ruột con người ta cồn cào nên cơm nguội một chút vẫn thấy ngon lành. Cá rô bí, cá sặc bướm, vài con lòng tong, cơm dừa xắt mỏng, tiêu... Bắc ơ cá lên mớ lửa than kho đến khi vừa tàn cũng là lúc nước cá sền sệt, đủ để quẹt dính đầu đũa rồi và một đũa cơm. Vị cay cay của tiêu đủ để âm ấm bụng mình. Thứ hương vị ấy, cảm giác được quẹt chảo ấy bây giờ có tìm đỏ con mắt cũng không ra. Những hôm mưa dầm như thế này thường có cảm giác thèm thuồng kiểu ăn như thế đến lạ.
Như thể Ngâu là vạt khói lam chiều trên mái rạ, từ đâu đó ở miền ký ức chạm vào mình. Rù quến nhau như thể đôi tình nhân nghiện ngập. Con người ai mà chả nghiện tuổi thơ, dễ dầu gì mấy ai cai được hẳn. Mình đợi chờ, khao khát cơn Ngâu chỉ để buồn. Để được với tay chạm vào Ngâu và nhớ…
Ngâu là gian bếp nhỏ với nồi canh chua bông súng cá rô. Nội nói ăn bông súng chọn cọng trổ hoa thì ngon hơn cọng lá. Tước nhẹ vỏ đi bứt khúc ngăn ngắn ngâm trong nước có vắt chanh. Đũa tre dựng đứng trong thau khuấy theo một chiều cho các cọng xơ trên bông súng bám vào mới sạch. Cá rô chiều hôm qua mưa to cả đàn nhảy lóc xóc trên liếp cỏ. Mấy chị em dùng rổ tre úp gọn, mỗi con bé chừng hai ngón tay, cá mái trứng đầy bụng. Thịt cá ngọt vị nước sông và cọng bông súng giòn tan trong miệng.
Ngâu với mình vẫn là nhịp cầu giữa đôi bờ ký ức.
Mà lạ (lại lạ), ký ức lại gắn liền với cái cà ràng trong chái bếp. Có lẽ nội nói đúng, con gái chẳng giống ba cũng không giống mẹ, giống người mà nội yêu thương nóng tánh đói, xấu nết ăn. Cứ đến giờ cơm sôi không kịp chắt nước, chắt nước rồi cũng chưa kịp để nồi cơm lên hơi đã khua chén leng keng. Nội bảo: “Tổ cha bây giống cái quân nào chuông chưa reo đã cầm chén?” Đám cháu cười cười: “Hồi đó ông nội ăn cơm vậy không phải hôn nội?"  

Mùa tép rong.
Nhìn đám tép rong nhảy xoi xói trong thúng mà bắt ham. Mấy con tép bé tẹo như đầu đũa, thịt trong vắt chỉ mỗi cái bụng đầy trứng xanh lè. Ba chị em mỗi đứa một cái kéo cùn cắt râu tỉ mẩn. Nội hốt một nắm để lên thớt, dùng con dao phay trở bề bản đập dập dập, cho ít tiêu, ít nước mắm ướp sẵn cho thấm để nấu canh cải trời. Ở quê mình cải trời nhiều vô kể, loại cây thấp bé mà có lá gan to nhất trên đời. Dám cãi cả trời cơ đấy (hihi). Cải Trời ngắt đọt đem vô rửa sạch, hốt một nắm dùng dao cắt nhỏ nhỏ như khi mình nấu canh tập tàng vậy. Nước sôi cho chén tép rong đập dập vô rồi thả cải trời vào. Nồi canh quê hương mang mùi vị ngọt lạ của tép rong, thơm, ngai ngái mùi cải trời dường như vẫn theo mình đến tận bây giờ.
Tép rong ram mặn, ram muối ớt. Loại ớt chỉ thiên xanh mướt nội trồng ké trên mỗi gốc cam sau vườn. Thích thì hái vài trái vào đâm muối ớt, còn không thì ba chị em nhà mình cứ bưng tô cơm ra vườn, cúi người cắn đại nửa trái ớt trên cây. Vị ớt non cay the thé nơi đầu lưỡi. Muối ớt được đâm bằng loại ớt đó đem nêm vào chảo tép rong thay cho muối thường thật ngon, thật đã!

Ngâu với mình là như thế!
Là những bữa cơm chiều đủ đầy hương vị quê nhà. Cải Trời, cải Đất, rau má, mùng tơi, rau chai, rau đắng đất… Là con còng, con cua đồng, con ốc đắng, ốc dừa, con hến còn đầy bùn đất.
Ngâu là bến sông chiều con nước ròng nước lớn, có đứa chống xuồng xuống bến chỉ để ngồi ngó mấy cái bông bần rụng trắng bờ sông. Chỉ để cắm sào ngồi nghe tiếng xuồng máy vang vọng cả một khúc sông và chỉ để ngồi nhìn hai bến bờ bồi lở.

Võ Thụy Như Phương (Cần Thơ)



Wednesday, September 4, 2013

ĐIỀU TÔI VẪN NHỚ LÀ THẦY – Tuỳ bút Hoàng Thị Nhã



            Ngát trong tầm mắt, quê đối với tôi vẫn hồn hậu như những ngày thơ bé. Những ngôi nhà dường như mấp máy môi hồng sau những rặng cây tỏa bóng. Đến đầu làng, vẫn vươn lên cao nhất là ngôi trường làng được quét ve vàng phớt  như màu của nắng, nổi lên dễ nhận thấy nhất trong tầm mắt mỗi người con quê hương.
                Trường làng bé xưa kia tôi học, có lẽ vẫn còn hoang sơ nhất nên những loài cây che bóng mát cho chúng tôi chưa phải là những cây xà cừ cổ thụ mà chỉ đơn giản là những bác bàng đứng lặng lẽ góc sân. Nơi ấy, tôi nhớ những người thầy, người cô một thời đã dìu dắt tôi.
      Tôi nhớ ngày ấy lũ học sinh trường làng chúng tôi dễ dàng thuộc tên từng thầy cô trong trường, và có thể hồn nhiên xòe tay ra đếm tên trên ngón tay như những ngày trẻ con học phép tính.  Một thời xa, các thầy cô đã dạy chúng tôi nề nếp của sự ngăn nắp, hướng dẫn cách đeo khăn quàng trên vai cổ áo, tránh những mép quăn trên trang giấy học trò.
                 Nơi ấy có quá nhiều thứ để nhớ, nơi kỉ niệm hồn nhiên trong trẻo nhất ùa về. Nhớ những buổi học ôn thi học sinh giỏi. Tôi có một tên bạn thân khá láu lỉnh và thông minh. Ngày xa ấy là một ngày nắng nhẹ, giọt sương khẽ rung trên những vòm lá, gió vẫn nô đùa bước chân đưa những đứa trẻ chúng tôi tới trường. Leo tót lên tầng ba ngắm cảnh chiêm ngưỡng xung quanh. Ngôi trường mới xây ba tầng thôi nhưng cao nhất làng nên ngắm cảnh trên tầng cao là một thứ gì đó mới lạ và làm lũ học trò chúng tôi rất thích. Bạn tôi hướng đôi mắt nhìn xa xăm. Tôi quay sang nhìn đôi mắt bạn và bỗng vỗ vai nó một cái:
- Này! Nhìn gì mà đăm đăm thế!. Bạn tôi giật mình. Nó quay sang chọc tôi: - Nhìn gì kệ tui! Không nhìn thấy một con chim vừa bay vụt qua trước mặt bà à!
- Đâu, đâu! Tui có nhìn thấy gì đâu. Chỉ tại, chỉ tại… ai bảo tui quay sang … nhìn ông!. Tôi đỏ mặt, chẳng ra sao cả. Sao tự dưng quay sang nhìn hắn làm gì cơ chứ. Quay vội đi, chúng tôi lại hướng mắt ra xa, mỗi đứa một hướng. Bỗng hắn giật tay tôi chỉ: - Nhìn đằng kia nè! Thầy mình đang đi xe đạp sắp tới trường rùi ý!
                 Nắng sớm vương nhẹ trên đôi vai người thầy chưa làm thầy ướt những giọt mồ hôi. Nhưng bỗng dưng tôi nghĩ sao quê mình còn nghèo quá. Mới nghĩ tới đó, thầy tôi đã tới cổng trường, bạn tôi kéo tay tôi chạy nhanh xuống tầng một kẻo muộn. Thầy tôi rất nghiêm khắc trong chuyện giờ giấc, không cẩn thận là đứng ngoài cửa học bài như chơi!
Rồi tôi với bạn bước vào cấp ba. Mỗi đứa một trường, ai bảo hắn chuyển đi làm gì cơ chứ, học trường huyện mình không tốt hay sao! Tôi giận hắn, cuối cấp ba ấy, lao đầu vào ôn thi đại học, ai nấy đều đóng cửa tu luyện, chẳng gặp lại nhau. Thi xong, nghỉ ngơi, lang thang trên mạng, một cái nick có cái tên quen thuộc xuất hiện và tiểu sử đã học cùng trường THCS với tôi. “Chà chà!” Chợt nghĩ ra tên của hắn.
                 - Ê! Cái tên “ba năm” kia!. Tự dưng chợt nhớ rằng tình bạn chúng tôi vẫn như ngày nào. - Ơ! Bốn năm đấy!
 Tôi không hỏi lại vì tôi vẫn hiểu. Bốn năm cấp hai dài chứ đâu có ít. Chúng tôi huyên thuyên về đủ thứ, nhưng câu chuyện vẫn xoay quanh về một thứ chung nhất là thầy tôi. Hắn cũng như tôi, nhớ về thầy từng chi tiết nhỏ. Hắn nhớ những buổi chúng tôi đi lao động khiêng đất cùng với nhau, trường tôi mới xây nên nhiều thứ bừa bộn cần phải dọn. Thầy tôi cũng xắn tay áo bắt tay vào buổi lao động với học sinh. Hắn kêu với tôi rằng tiếc quá ngày xưa chúng tôi chẳng có những chiếc máy ảnh để ghi lại những khoảnh khắc ấy!

               Chìm vào giấc ngủ, ừ nếu ngày xưa tớ cũng có những thứ đó tớ đã lưu lại những hình ảnh cậu, sẽ lưu lại hình ảnh người thầy mà tớ biết đã chuyển đi giảng dạy nơi khác. Hình ảnh cậu đứng cạnh thầy khi đoạt giải học sinh giỏi năm ấy. Hai con người tớ thầm ngưỡng mộ và kính trọng! Nhớ người thầy khi xưa luôn bắt chúng ta ghi chú cuối trang vở câu tục ngữ: “Có công mài sắt, có ngày nên kim.” 
                Trong giấc mơ, tớ thấy mình đứng ở khoảng trời mới, miên man trong suy nghĩ, từ tầng ba nhìn ra xa, những chú chim ríu rít trên cành, bỗng vụt lên, nhanh lắm! Nó vút cao! Và thầy tôi với những lớp học trò!

Hoàng Thị Nhã (Hải Dương)


Friday, August 30, 2013

THÈM VỀ NGÀY ẤY- Tuỳ bút Vĩnh Thông

                                                     Vĩnh Thông 

 Vĩnh Thông
Sinh năm 1996
Quê quán: Cù lao Năng Gù (An Giang)
Sáng tác từ năm 14 tuổi. Có nhiều tác phẩm văn, thơ đăng trên các báo, tạp chí Trung ương và địa phương. Góp mặt trong 10 tuyển tập văn thơ nhiều tác giả.
Tác phẩm đã xuất bản: Và quá khứ thấy ta (tập thơ, NXB Văn học 2012)



Ta và bạn ngẫu hứng hẹn cà phê cùng nhau trong một ngày trưa ngập nắng - cái nắng miền Nam hắt vào thịt da rát bỏng. Vào thời điểm gần cuối năm học, lại là những năm cuối cấp, hầu như ai cũng không có nhiều thời gian rãnh rỗi để ngồi bên nhau như thế nầy. Ta và bạn cũng vậy, mỗi ngày đều phải tất bật bên đống sách vở chuẩn bị cho những kỳ thi quan trọng, mệt lả người. Hôm nay có được thời gian cà phê tán dóc thế nầy cũng đã là may mắn rồi.

Ta và bạn trầm ngâm bên ly cà phê nâu, nhìn nhau mà chẳng nói được câu nào, nhìn nhau thôi cũng đủ hiểu nhau rồi. Dường tư cả hai muốn thời gian chùng lại, muốn được cảm giác nhẹ nhỏm mãi như lúc nầy, muốn rằng… Ta nói với bạn rằng dạo nầy sao con người ta trở nên lười biếng hơn trước nhiều quá, cảm thấy mệt mỏi và chán nản quá chừng! Bạn gật đầu, nói rằng bạn cũng chẳng khác gì ta, thi cử tới nơi rồi mà tự dưng cũng có cảm giác chán lắm, mệt mỏi lắm. Bạn thở dài, nghiêng cặp mắt tròn giấu sau lớp kính cận nhìn ra phía xa xăm, rồi chợt nói bây giờ tự dưng thèm được trở về những ngày xưa. Ta ngỡ ngàng, hỏi ngày xưa là ngày nào. Bạn không nhìn ta, bảo rằng đó là thời thơ ấu, là khi tụi mình còn nhỏ, còn nhỏ, là khi…

Ôi! Khi nào bạn nhỉ? Sao ta thấy mênh mông quá chừng. Ta ngỡ ngàng không phải vì ước muốn của bạn lạ lẫm, mà vì sao câu đó hay quá, có lẽ ta cũng từng hơn một lần nghĩ đến, nhưng chưa từng có thể nói mạnh dạn như bạn. Sách vở, bài học, chữ nghĩa, dự định… bỗng dưng rủ nhau bay mất. Trong đầu ta dường như trống rỗng. Còn lại chăng là chút nắng vàng nhè nhẹ hắt vào khung cửa sớm mai, khi ta trèo lên xe đạp tung tăng đến trường. Còn đây là những gốc cây, mảng tường, sân gạch mà ta hay chơi trò trốn tìm bịt mắt. Còn những cánh phượng giả làm bướm, những lá thuộc bài ta ép vào trang vở (cái trang vở còn lốm đốm những dấu chéo màu xanh đỏ khi chơi cờ ca rô cùng lũ bạn mà lúc nào ta cũng là người thua cuộc). Và, từ trong một góc nào đó - rất sâu - của ký ức, chợt một ý nghĩ lóe ra và bừng sáng trước mắt ta, rằng ta cũng thèm, thèm lắm được về với tuổi thơ.
Dường như, con người ta sinh ra trên đời nầy hầu hết ai cũng mắc phải chứng “sợ già” (có lẽ ngoại trừ các vị thiền sư). Sợ - không chỉ đơn giản là sợ mất đi vẻ đẹp trong giai đoạn sung mãn nhất của đời người, mà còn sợ nhiều thứ khác. Ta sợ rằng khi thời gian càng trôi qua, ký ức về tuổi thơ ta sẽ không còn giữ được nữa, sợ rằng những ngày tháng bên nhau rồi cũng là gió là mây trôi tít mù, sợ ngày mai ta sẽ lạc nhau giữa thành phố ồn ào, sợ ta quên mất một cái tên nào đó mà ta từng gọi… Và, sợ…
Một ngày nào đó ta cũng chợt hỏi mình liệu đã có bị… “lây lan” chứng bệnh nầy chưa? Và, đâu đó, mang máng trong đầu, hình như ta cũng đã có nỗi sợ nầy rồi, dẫu mình vẫn còn đang rất trẻ. Nói đúng hơn là ta sợ rằng ngày mai, cũng ngay lại chỗ nầy, ta không còn được là ta của hôm nay nữa.
“Chỗ nầy” là khoảng sân gạch rất rộng, nằm giữa ba dãy phòng xếp thành hình chữ U ngay ngắn. Đã có lúc nào đó ta từng nấp sau lùm cây và nhìn trộm cô gái đang tung tăng rời trường. Cũng có khi ta ngồi tỉ tê cùng lũ bạn những chuyện trên trời dưới đất, để rồi cùng nhau phá lên cười giòn tan, vỡ cả nắng trưa hè. Ta cũng đã từng ngồi giữa khoảng sân nầy để đợi một ai đó, biết chắc rằng họ sẽ không đến, nhưng ta vẫn chờ và lặng lẽ mang về nỗi buồn mênh mang.
“Chỗ nầy” là gian phòng nhỏ gọn, vừa vặn chứa đủ 30 cái đầu tinh nghịch, quỷ quái. Đã có lúc nào ta giấu chiếc dép mà thằng bạn bàn trên vừa bỏ khỏi chân, để rồi hắn la oái oái lên làm rộn vang cả lớp. Có khi nào ta tặng một món quà nho nhỏ cho cô bạn học mà chỉ lén để dưới ngăn bàn chứ không dám đưa tận tay. Và, ta cũng có bật khóc trong phòng nầy trong buổi học cuối cùng với câu nói: “Ngày mai thầy về hưu”.
“Chỗ nầy” là cái bục dài vài mét, đủ để thầy đứng giảng bài và trò lên làm bài tập. Rất khiêm nhường như nó lại là nơi thiêng liêng nhất trong đời người học sinh. Có lúc nào đó ta bỗng thấy dáng vẻ thầy cô bỗng cao lớn phương phi, còn ta thì nhỏ nhoi, bé bỏng và khờ khệch. Ta đã từng sướng rân lên khi tại cái bục cao cao ấy, thầy cô đã hướng dẫn gọn hơ cái bài tập mà ta còn đang lúng túng. Vậy mà cũng có đôi lúc, tại nơi ấy, ta thấy thầy cô rơi lệ.
“Chỗ nầy” là con đường ốm teo, dài ngoằn, dẫn từ quốc lộ vào trường. Nơi đó có những chiều tan học ta cùng lũ bạn dầm mưa đùa nghịch. Cũng có những chiều buồn hẹn nhau cà phê, chia sẻ những câu chuyện vặt. Những đêm học tối, ta lang thang tìm quán vỉa hè tán dóc cùng lũ bạn. Rồi sáng sớm mai ta lại mỉm cười cùng nhau đi trên con đường đó vào trường. Con đường ta qua suốt bao năm, quá quen thuộc, thậm chí biết cả từng nhánh cây bên đường. Vậy mà xa rồi vẫn nhớ!
Và ta còn nhiều “chỗ nầy” khác nữa. Nhưng, ngày mai, khi ta trở lại những “chỗ nầy” ấy, ta có còn được trở về với thời áo trắng ngày xưa không?
Bởi vậy bạn ta (và cả chính ta nữa chứ) đều sợ già, đều muốn trở về tuổi thơ. Vì khi con người qua đi khoảng thời gian đẹp nhất nầy, ta không bao giờ tìm lại được. Cũng sân trường cũ nhưng chỉ có thể ngắm nhìn, không còn được nghịch phá như thuở ấy. Cũng bàn ghế cũ nhưng chỉ có thể ngồi, không còn được nghe tiếng thầy cũ, bạn xưa. Cũng con đường cũ, nhưng chỉ có thể lang thang ăn uống, không còn cái cảm giác la cà, chia sẻ ấm cúng nữa.
Một ngày trở về trường cũ, thời áo trắng đã xa, tuổi thơ đã xa, ngày tháng bên bạn bè đã xa, và chính ta - ta cũng đã xa ta của ngày xưa. Thèm mùi ấu thơ và muốn trở về với tuổi thơ là điều mà nhiều người muốn, nhưng có ai làm được? Mai nầy, khi ta chông chênh sẽ không còn thầy cô, bạn bè để nương tựa, chỉ còn chăng những ký ức nhạt nhờ là niềm an ủi cuối cùng cho ta. Ta và bạn, hơn ai hết, là những người chỉ còn lại khoảng thời gian ngắn ngủi trên ghế nhà trường, nên càng thèm được dừng thời gian lại, được quay lại lúc mới bắt đầu. Để ta còn là đứa học trò hồn nhiên bên bạn bè!
Yêu thương xưa ơi, bao giờ quay trở lại? Bao… giờ…
Vĩnh Thông (An Giang)





Thursday, August 29, 2013

CÂY ROI MÂY CỦA NỘI – Tuỳ bút Phạm Tử Văn

                                                Cây bút trẻ Phạm Tử Văn

- Người già đâu mấy ai đủ sức để đợi những lời hứa hẹn của con cháu trở về. Con ráng thu xếp công việc rồi về đi, một ngày cũng được. Bà nội cứ nhắc con không à. Hơn hai năm con không về rồi còn gì nữa.
- Con… con xin lỗi…
- Mẹ sẽ còn phải nghe bao nhiêu từ xin lỗi ấy nữa đây? Con hứa nhưng không thực hiện, sau đó thì xin lỗi. Hay mẹ gửi vào cho con cây roi mây của ông nội nhé?
Từ đầu điện thoại bên kia, mẹ im lặng không nói thêm gì. Nhưng có tiếng thở dài rất khẽ vọng lại. Tôi tự nhiên thấy rưng rức nơi lồng ngực. Hình ảnh cây roi mây của ông nội lại hiện ra, vàng coóng đến nhói lòng.
****
Ngày ông nội mất, tài sản quý giá nhất mà ông để lại cho con cháu là cây roi mây cùng những bài học làm người hữu ích. Trong giây phút lâm chung, ông đã trăng trối: “Đồ của tao, tụi bay vất bỏ thứ gì cũng được nhưng cây roi mây thì ráng mà giữ. Treo nó trong nhà, ra vào trông thấy nó, còn nhắc nhau sống cho tốt. Đừng để bà con lối xóm phiền hà, đặng dưới kia, tao cũng không yên lòng được”. Vậy nên sau khi ông đi, bố tôi đã treo cây roi mây ở nhà thờ. Mỗi lần con cháu tới thắp hương, đều trông thấy cái hình ảnh vàng vàng, cong cong của cây roi ấy.
Theo như những gì bà nội tôi kể thì cây roi mây đó có từ khi bố và các cô chú tôi còn rất nhỏ. Trong số những người em của bố thì người chú giáp út rất hiếu thắng. Một lần, chỉ vì chuyện cái bút đẹp với không đẹp, chú đã đánh cho bạn mình đến chảy máu đầu. Buổi tối, phụ huynh của người kia đến nhà chửi xéo ông bà, nói là quân mất dạy, vô giáo dục. Ông gầm gừ nhìn chú rồi lẳng lặng ra vườn chặt cây mây, tróc vỏ mang về. Ông bắt chú nằm úp xuống sân, ngay trước mặt bác phụ huynh kia. Giọng ông sin sít: “Học làm người không học, muốn làm quân mất dạy hả? Tao đánh coi mày chịu nổi không mà mày đánh con người ta như vậy”. Rồi ông giơ cao cây roi lên, thẳng tay vụt tới tấp xuống. Chú tôi khóc thét lên, van nài ông tha tội. Mọi người thì sợ hãi đứng nhìn, không ai dám vào can.
Kể từ đó, mỗi khi các con phạm lỗi bất kể lớn hay nhỏ, ông đều dùng cây roi mây để giáo huấn. Bố tôi cũng bị ông đánh một lần vì bất cẩn để lửa bén ra ngoài khiến bếp bị cháy. Mọi người trong xóm bảo ông ác. Nhưng ông chỉ tặc lưỡi: “Mỗi cây, mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh. Không ác với chúng thì sau này chúng sẽ ác với đời thì ai chịu”?
Sau này, khi con cái đã khôn lớn, ông không dùng roi mấy để trị nữa. Nó được chuyển giao cho bố tôi và các chú.
Lần tôi bị bố đánh đầu tiên và cũng là duy nhất là năm tôi học lớp 4. Khi tan học, tôi không về nhà ngay mà ra sông tập trận cùng lũ bạn trong lớp. Đến tối mít tôi mò về thì mọi người trong nhà đang dáo dác đi tìm. Bố rất giận nhưng vì mới lần đầu phạm lỗi nên bố chỉ dứ dứ cây roi vào người rồi nhắc nhở. Tôi cũng hứa với bố sẽ không tái phạm nữa. Nhưng đến hai ngày sau, tôi lại ham chơi quên mất giờ về. Lúc bố lôi vào nhà, tôi vừa khóc vừa mếu máo nói lí do thăm bạn ốm ở xóm bên nên mới về muộn như vậy. Nhưng thật xui xẻo cho tôi bữa đó, đúng lúc bố tôi định tha tội thì người bạn kia tung tăng chạy qua nhà mượn sách mà không có biểu hiện của ốm đau. Biết tôi nói dối, bố càng giận hơn. Mặc cho tôi van nài khóc lóc, bố tôi vẫn lấy cây roi mây treo trên cột xuống rồi ấn tôi nằm sấp xuống nhà. Giọng đanh thép, bố tôi nạt: “Mới tí tuổi đầu đã học thói dối cha, lừa bạn. Như vậy sau này còn ai tin tưởng nữa, hả”? Vừa dứt lời thì lằn roi mây từ tay bố cũng hằn lên trên mông tôi. Rồi liên tiếp những roi thứ hai, thứ ba. Khi tôi tru lên khóc thì bố quát: “Im”. Sợ hãi, tôi bặm môi lại thật chặt. Từng tiếng ư ử giữ lại ở cổ họng. Bố lại rành rọt từng tiếng: “Oan ức lắm mà khóc hả? Khi sinh ra, mày đã khóc còn mọi người đã cười. Bây giờ mày phải sống sao cho đến khi nhắm mắt nằm xuống, mày sẽ cười còn mọi người sẽ tiếc thương mà khóc chứ”. Rồi lại thêm tiếng vun vút bổ xuống. Tôi nhắm nghiền mắt lại nhưng lần này nhẹ tênh. Tôi he hé mắt, ngoái lại sau nhìn. Ông nội tôi đang chắp tay đứng bên cạnh bố. Tôi làm bộ khóc to lên.
Sau lần ấy, tôi không dám phạm thêm lỗi nào nữa. Và theo thời gian, cây roi mây cũng đã cùng tôi lớn lên với những bài học làm người bố dạy. Hình ảnh vết hằn của làn roi mây đã luôn bên tôi, cả trong những tháng ngày tôi xa quê sống giữa đất Sài Gòn náo nhiệt. Tự sâu thẳm lòng mình, tôi vẫn luôn trân trọng, cảm ơn những lằn roi ấy. Nó đã luôn nhắc tôi phải sống tốt giữa những bon chen, toan tính của phố phường.
*****
Nhưng tôi đã trở thành người thất hứa với bà nội của mình. Với hai năm quay cuồng giữa cuộc sống phố thị, nhiều khi quay quắt nhớ nhà nhưng những nỗi lo của đời sống thường ngày lại cuốn tôi lao đi. Vậy nên những lời hứa về thăm nhà, thăm bà nội lại đành bỏ ngõ. Giá như khoảng cách giữa Sài Gòn và Thái Bình chỉ là một bước chân thì hay biết mấy.
Chiều nay đi làm về, mẹ lại gọi điện vào. Bà ốm nhưng vẫn cố đi ra đầu ngõ đứng ngóng chuyến xe Bắc- Nam chạy qua nhà. Cây roi mây trong tay của bà như run rẩy. Tôi đã như chết lặng khi nghe mẹ nói vậy. Hai từ xin lỗi, tôi cũng thể bật ra như mọi lần. Phải hồi lâu sau, tôi mới bật ra được tiếng nấc:
- Vâng, sáng mai con sẽ về. Chắc chắn là như vậy. Mẹ nói với bà vào nhà nằm dưỡng sức, để mai con về, bà quất cho con vài roi, mẹ nhé…

Phạm Tử Văn

Wednesday, August 21, 2013

HÁT VỀ LOÀI HOA MONG MANH – Tuỳ bút Huỳnh Ngọc Phước



Thời gian trôi mau quá! Mới đây sân trường còn vang những khúc hát hồn nhiên của lứa tuổi học trò, bây giờ thì chỉ còn những cây phượng già đứng trầm ngâm, lặng lẽ đếm thời gian. Những băng ghế đá chỉ còn đọng lại kỉ niệm của một thời áo trắng. Những trang lưu bút còn tên những đứa bạn trong sắp giấy gấp đầy hoa phượng. Hè đã đến, những cánh phượng chen nhau để khoe hương sắc của mình với những tia nắng mặt trời len qua tán cây. Có lẽ phượng cũng ưu tư, luyến tiếc như bao học sinh, buồn cho ngày tiếng trống trường cuối cùng vang lên.
Kết thúc năm học, bao nụ cười nở trên vành môi xen lẫn bao giọt nước mắt ngậm ngùi, thương tiếc đong đầy khóe mắt. Tà áo dài trắng phất phơ trong gió bụi, trong những trận mưa phượng. Mái tóc ai đó cài nhành hoa phượng vô tình đánh thức tình yêu đầu đời của những đứa con trai. Có ai đó trao cho ta bài thơ vừa viết vội, lời thơ chưa trau chuốt nhưng đầy cảm xúc của tuổi ngây thơ, làm ta rung động, khóe mắt cay cay.
“Mối tình đầu của tôi / Là cơn mưa giăng giăng ngoài cửa lớp / Là áo ai bay trắng cả giấc mơ / Là bài thơ còn hoài trong vở / Giữa giờ chơi mang đến lại mang về” (Phượng hồng – thơ Đỗ Trung Quân, nhạc Vũ Hoàng). Những câu hát ngọt ngào mang biết nhiêu cảm xúc chân thật của một thời áo trắng. Chắc hẳn ai cũng có tình yêu đầu đời giữa lứa tuổi học trò thơ mộng, dầu chỉ có thể bắt nguồn từ một cái cái liếc mắt hay một nụ cười, cũng đủ để lưu lại trong tim mình bao nhung nhớ. Tháng Năm về, còn đâu thấy “cơn mưa giăng giăng ngoài cửa lớp” hay “áo ai bay trắng cả giấc mơ” mà chỉ còn lại bài thơ “mang đến lại mang về”. Đó là những cảm xúc không thể nào quên được của bao người.
Tháng Năm, những giây phút bình yên, hạnh phúc nhất của thời áo trắng, đầy mơ mộng rồi cũng qua đi, chỉ con những lá bàng, hoa phượng rơi đầy trên sân. Tháng Năm, còn đâu những chiếc xe đạp chạy trên con đường quen thuộc, đôi tà áo dài xinh xắn lất phất trong mưa phùn. Căng tin giờ chẳng bóng người, chỉ còn những cơn gió ùa qua tấm thiết trên nóc nhà, kêu “cót két”. Tôi đứng dưới gốc phượng nhớ về tuổi học trò của mình, cứ ngẩn ngơ nghĩ về cái giây phút còn vui đùa cùng bạn. Tôi đứng xa xa lặng yên nhìn mái trường xưa với bao nỗi nhớ dâng trào. Nước mắt bất chợt rơi ướt nhòa cánh phượng đang nằm trên bày tay. Những giây phút đó cứ hằn in trong trí nhớ!
Tháng Năm, bao kỉ niệm ùa vào đôi mắt hốc hác của tôi. Cái nắng hanh hao làm nỗi buồn tôi như trỗi dậy mạnh mẽ, vậy mà bóng dáng em ngồi dưới gốc phượng cứ mờ mờ trong ánh mắt tôi. Đứng lặng giữa sân trường xưa, hình bóng em và chiếc áo dài cứ ẩn hiện trong trí nhớ, cứ ngỡ như vừa mới hôm qua. Em giờ đây không còn bước trên con đường phủ đầy hoa lá, mà bước trên con đường đầy chông chênh, bấp bênh giữa cuộc đời.
Em khoác chiếc áo màu đỏ thay cho chiếc áo trắng tinh khôi cũng là lúc đã em đã giã từ mái trường, bạn bè, sách vở… Và, giã từ cả mối tình đầu của tôi. Mối tình đầu trong trắng, thuần khiết biết mấy! Đứng nơi đây lòng tôi dâng trào biết bao cảm xúc, âm thầm chôn giấu nỗi buồn da diết về em.
Tháng Năm, không còn em, chỉ còn kỉ niệm của chúng tôi cất giấu, giữ gìn lại trong một góc sân trường. Gió nhè nhẹ đưa cánh phượng từ từ rơi xuống đất trong ánh nắng nhạt màu. Bất chợt trở lại trường xưa với bao nỗi nhớ, nhớ về em và tôi ở tuổi đôi mươi. Vẫn đứng dưới cây phượng già năm nào, nhìn từng chùm phượng mà lòng quặn thắt.
Bấy nhiêu năm nơi xứ lạ ta về
Áo vẫn trắng giữa sân chiều “hạ trắng”
Phượng vẫn đỏ tiễn người xưa đâu mất
Để bây giờ nước mắt thấm tràn mi!
Huỳnh Ngọc Phước (An Giang)



Tuesday, August 20, 2013

CON GÁI – Tuỳ bút Bích Lê


Lúc nhỏ, con rất ghét khi nghe ai nói: "Con gái là con người ta". Sao lại là "con người ta" cơ chứ!? Vì con gái vẫn luôn yêu thương Ba Mẹ nhất mà. Cho dù khi lớn lên, con gái rồi sẽ đi theo hạnh phúc mà con gái lựa chọn nhưng con gái vẫn cứ là con của Ba Mẹ. Con gái yêu Ba Mẹ biết bao nhiêu. Con gái từ nhỏ, đã khăng khăng nhất định sau này sẽ chăm sóc bố mẹ chu đáo. Từ những suy nghĩ  lúc bé ấy mà con gái ghét câu: "Con gái là con người ta". Cứ như là con gái lấy chồng rồi sẽ biệt tích mất tiêu vậy.
Rồi con gái lớn, con gái xa Ba Mẹ, tung cánh bay theo những mơ ước của mình. Cũng không cần đợi đến lúc con gái tìm được hạnh phúc riêng cho mình, con gái buồn... vì con gái biết, chưa đợi đến lúc thành "con của người ta" thì con gái đã xa Ba Mẹ mất rồi. Con gái 18 tuổi, con gái vui mừng cầm trên tay tờ giấy báo đậu đại học, hồi hộp vui mừng và háo hức chuẩn bị hành trang, tung cánh vào khung trời mới bên nụ cười ấm áp yêu thương của Ba Mẹ. Và cũng từ đây, con gái xa Ba Mẹ mất rồi.
Lúc con gái còn nhỏ, con gái được Ba Mẹ chăm sóc chu đáo, lo cho từng li từng tí, con gái chỉ có học và chơi, có chăng cũng chỉ giúp được Ba Mẹ những chuyện cỏn con. Hôm nào con gái học nhiều quá, mệt, không muốn ăn cơm là Ba lại nhắc nhở, con gái thấy Ba lo, thương Ba quá. Con gái bệnh, Ba Mẹ thức trắng đêm canh con ngủ. Con gái được nhận từ Ba Mẹ quá nhiều sự lo lắng, quan tâm, chăm sóc và tình yêu thương...
Con gái vào đại học, con gái xa nhà, xa Ba Mẹ, xa thói quen được Ba Mẹ lo lắng cho. Con gái biết tự lo cho bản thân hơn, biết sống tập thể hơn, biết đi chợ nấu cho mình những bữa cơm sinh viên đơn giản. Những hôm đi học về, một mình, con gái chỉ ước được ăn bữa cơm do mẹ nấu, thèm được nghe câu nói của Ba: “Ráng ăn nhiều zô đi con”. Cũng có lúc con gái khóc, con gái khóc vì thương Ba Mẹ. Con gái của Ba Mẹ chỉ khóc vì hai lí lo, là khi điều gì đó khiến con gái quá giận, con gái quá ức mà không thể kìm được, hoặc là khi con gái nghĩ về gia đình mình, khi con gái thấy thương Ba Mẹ, thương các chị. Với con gái, gia đình mình vẫn luôn là điều quan trọng nhất mà. Điều hạnh phúc nhất của con gái đó là được sinh ra và lớn lên trong gia đình mình, có Ba Mẹ, có chị và có em, những người  thân yêu và quan trọng  nhất đối với con.
Con gái khóc vì con gái thương Ba Mẹ. Con gái thương Ba Mẹ đã một đời hi sinh cho sự khôn lớn, trưởng thành của con gái. Nhưng con gái đâu có làm được gì cho Ba Mẹ. Đâu đợi đến lúc con gái theo chồng, khi con gái vào đại học thì con gái đâu còn nhiều thời gian ở bên Ba Mẹ. Con gái khóc vì con gái thấy mình tệ quá. Nếu trước đây, con gái bận học hành, thì giờ đây, khi con gái đã lớn, con gái cũng đâu có thể chăm sóc Ba Mẹ được như Ba Mẹ đã dành cho con gái. Con gái đâu có còn được thường xuyên nấu cho Ba Mẹ những bữa cơm tươm tất, để Ba Mẹ có thể ăn ngay sau buổi làm đồng vất vả. Ngày mùa, Ba Mẹ vất vả bao nhiêu nhưng  con gái cũng đâu phụ được Mẹ Ba chuyện gì. Nhà có giỗ, cúng, con gái cũng chẳng thể cùng mẹ ngồi gói bánh ít, quét dọn nhà cửa,  hay giúp Ba lau chùi bàn thờ tổ tiên nói chi là cùng Mẹ lo chuyện nấu nướng. Con gái cũng chẳng làm được một việc đơn giản là giặt cho ba chiếc áo, hay giúp mẹ việc nhà. Mẹ bệnh, con gái gọi điện về nhà, mẹ còn giấu, mẹ bệnh vậy mà con gái cũng đâu thể ở bên cạnh, nấu cho mẹ chén cháo, hay thay Ba lo việc bếp núc, heo gà, những việc hằng ngày của mẹ. Con gái thấy thương Ba Mẹ vô cùng
Giờ thì con gái  đã hiểu "Con gái là con của người ta" vì đâu cần đợi đến lúc ấy, con gái đã bay mất rồi. Con gái luôn ấp ủ trong đầu ý định sẽ về quê khi ra trường, để được sống gần Ba Mẹ, được ăn những bữa cơm do Mẹ nấu, để chăm sóc Ba Mẹ như Ba Mẹ đã chăm sóc cho con gái ngày nào vậy. Nhưng thực tế quê mình, cơ hội việc làm đâu dễ dàng như những gì con gái từng nghĩ...

Sài Gòn,  9. 8. 2011
Bích Lê